Tuesday, November 26, 2013

Làm trai cho đáng nên trai

“Làm trai cho đáng nên trai
Lên giường với vợ, nhớ bài sau đây
Thứ nhất phải tắm sạch ngay
Phụ nữ ghét nhất những tay hôi rình
Hai là phải nhớ chung tình
Phụ nữ ghét nhất là tình tay ba
Ba là không được kể ra
Cô này. cô nọ hôm qua thích mình
Bốn là luôn khen vợ xinh
Năm là luôn biết giữ mình… không say
Sáu là luyện tập hàng ngày
Rèn luyện sức khỏe … được ngay điểm mười!”

Gia đình người Neanderthal ăn thịt lẫn nhau

Các nhà khoa học đã phát hiện ra 12 bộ hài cốt trong đó có cả trẻ em ở Tây Ban Nha. Đây có thể là những gì còn sót lại từ một 'bữa tiệc' của nhóm người Neanderthal.


Sử dụng kỹ thuật pháp y hiện đại bao gồm cả việc phân tích ADN, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng 12 người Neanderthal, tất cả từ cùng một gia đình, đã bị chính những người thân của mình ăn thịt.

Trong nghiên cứu trình bày với Hội hoàng gia ở London, nhà sinh vật học Carles Lalueza -Fox của Viện Sinh học tiến hóa tại Barcelona cho biết người Neanderthal đã chặt xương của các nạn nhân để lấy tủy, hơn thế nữa, hộp sọ cũng bị bổ toang ra vì họ lấy bộ não và lưỡi để ăn.

Các nhà khoa học Tây Ban Nha tìm thấy một gia đình người Neanderthal đã giết và ăn thịt lẫn nhau.

Các nhà khoa học tìm thấy hệ thống hang động El Sidrón gần Asturias ở phía Tây bắc nước Tây Ban Nha có xương của 3 người phụ nữ, 3 người đàn ông, 3 nam thiếu niên và 3 trẻ em trong độ tuổi từ hai đến chín.

Theo Sunday Times, ông Lalueza – Fox đã nói với Hội hoàng gia rằng "Tất cả đã bị xẻ thịt. Đây chắc chắn là một bữa tiệc lớn.”

Hệ thống hang động El Sidrón gần Asturias ở phía Tây bắc nước Tây Ban Nha

Bằng cách phân tích các công cụ bằng đá những kẻ ăn thịt người sử dụng, các nhà khoa học có thể kết luận rằng thủ phạm là người Neanderthal từ một nhóm lân cận.

Hình ảnh người đàn ông Neanderthal

Ông Lalueza -Fox nói: "Tôi đoán họ đã thiệt mạng trong mùa đông khi thức ăn trở nên khan hiếm. Hiện tại không có bất cứ bằng chứng nào cho thấy những dấu hiệu của việc sử dụng lửa, thực tế họ đã ăn sống thịt sống ngay lập tức và họ ăn hết các thứ thịt trên cơ thể người. Thậm chí họ còn xẻ thịt xung quanh quai hàm để lấy lưỡi ăn".

Trong hang động, hiện tại có xương người lẫn với sỏi và bùn đất. Những cơn bão mạnh đã rửa sạch xương và những công cụ bằng đá rồi cuốn chúng vào những cái hố trong hang.

Ông Lalueza -Fox đã sử dụng những tiến bộ khoa học mới nhất bao gồm cả trình tự DNA để xem tái tạo lại các gen của người Neanderthal sau đó tìm thông tin về màu tóc và nhóm máu của họ.

Rợn tóc gáy những chuyện thật về tái sinh

Các thiếu nữ bị "sàm sỡ" mắng cậu bé là mất dạy, không biết rằng trong cái lốt cậu bé con là linh hồn một người đàn ông trưởng thành.


Trong các câu chuyện về luân hồi, những người chết oan hay có những sở nguyện lớn chưa được hoàn thành trong kiếp trước thường dễ tái sinh và không quên “chuyện cũ”. Bởi vậy, kiếp sống hiện tại của họ bị ảnh hưởng lớn bởi những ký ức tiền kiếp.

Người chết oan theo xe buýt đi đầu thai

Ở làng Don Kha, tỉnh Nakhon Sawan, Thái Lan có một ông Pamorn Promsin, hiệu trưởng trường trung học sinh cậu con trai tên là Bongkuch Promsin. Từ khi biết nói, Bongkuch (sinh năm 1962) luôn khẳng định mình tên là Chamrat, sống ở làng Hua Tanon cách đó 9km. Cậu bé kể những chi tiết trong cuộc sống trước đây của mình, như bố mẹ nuôi gà, cậu có một chiếc xe đạp, một con dao…

Khi được 2 tuổi, cậu kể tỉ mỉ về cái chết của Chamrat: Cậu đã bị hai tên sát nhân đâm nhiều nhát để cướp đồng hồ và dây chuyền, sau đó vứt xác xuống ruộng. Sau khi chết, linh hồn cậu (tức Chamrat) đã nương náu trên một ngọn cây gần nơi bị sát hại trong suốt 7 năm. Vào một ngày mưa, oan hồn thấy ông Pamorn Promsin đi ngang, bèn bám theo ông về nhà bằng xe buýt, rồi đầu thai làm con ông. Ông giáo Pamorn cũng nhớ rằng trước lúc vợ mang thai Bongkuch, ông có đi họp ở Hua Tanon vào một ngày mưa.

Các báo cáo nghiên cứu về trường hợp này xác nhận, có một vụ án mạng quả thực xảy ra trước đó gần 10 năm, nạn nhân tên là Chamrat, thủ phạm vẫn chưa tìm ra. Trong số 2 kẻ tình nghi, một đã trốn thoát, một bị bắt rồi thả vì không đủ chứng cứ. Vợ chồng ông giáo Pamorn Promsin không biết gì về vụ án mạng này cho đến khi con trai kể ra.

Chuyện cậu bé tự nhận là chàng trang bị ám hại đã đến tai gia đình người quá cố Chamrat, họ đã đến nhà Bongkuch thăm cậu. Cậu cũng có lần theo họ về “nhà cũ” và những gì thể hiện khiến họ tin chắc đây là Chamrat tái sinh.


Cậu bé Bongkuch mang rất nhiều đặc điểm về cử chỉ, hành vi, cá tính, thậm chí cả của Chamrat. Em hay nói thứ tiếng lạ lùng mà sau người ta nhận ra là tiếng Lào (gia đình Chamrat người Lào), thích ăn các món Lào, nhất là cơm nếp, thường xuyên đánh răng (trẻ con Thái thường không đánh răng). Cậu bé vẫn chưa nguôi mối căm hận với những kẻ đã giết mình, thường nói khi có cơ hội sẽ trả thù, và hay đánh vào cái cột mà cậu tưởng tượng là hai kẻ sát nhân, gọi tên chúng.

Đặc biệt, Bongkuch luôn cảm thấy cái bức bối của một người đàn ông trưởng thành bị nhốt trong hình hài đứa trẻ. Có lần quên mất tình trạng hiện tại, cậu đến tiệm cắt tóc để… cạo râu. Và vì coi mình là một chàng trai nên Bongkuch rất thích các thiếu nữ, nhất là cô nào đẹp. Có lần một cô gái đến chơi với gia đình, định ở lại ít hôm nhưng cuối cùng đã tức giận ra về vì thái độ ve vãn, sàm sỡ của Bongkuch mà cô cho là “mất dạy” ở lứa tuổi cậu. Như nhiều trường hợp tái sinh khác, ký ức tiền kiếp của Bongkuch mờ dần khi lớn lên.

Linh hồn người lính Nhật cởi trần mặc quần cộc

Trong khi mang thai Ma Tin Aung Myo mẹ cô 3 lần nằm mơ thấy một người lính Nhật cởi trần mặc quần cộc đi theo và nói sẽ đến ở với vợ chồng bà.

Myo ra đời ngày 26.12.1953 tại ngôi làng Nathul ỏ Myanmar. Từ khi lên 3 tuổi, cô bé luôn khóc vì kinh hãi mỗi khi máy bay bay qua, và năm 4 tuổi, được hỏi tại sao lại như vậy, Myo nói cô vốn là lính Nhật đóng quân ở làng này hồi Thế chiến thứ 2, bị máy bay quân đồng minh bắn chết trong một trận oanh tạc, khi quân Nhật bắt đầu rút khỏi Myanmar và cô bị kẹt ngoài bờ đê.

Myo cũng kể hồi còn ở Nhật, cô, tức anh lính Nhật, đã có vợ và một đứa con, và một cửa hàng nhỏ. Cô bé luôn nói rằng, cô khao khát được trở lại cố quốc với gia đình mình. Myo hay úp mặt khóc vì “nhớ nhà” và tỏ ra giận dữ khi có ai nhắc tới người Anh hoặc người Mỹ.

Như một người Nhật, Myo thấy khổ sở vì khí hậu nóng bức tại Myanmar và ghét các món ăn địa phương, chỉ thích ăn cá sống và đồ có đường. Cô bé cũng tự coi mình là đàn ông, luôn mặc đồ nam, cắt tóc kiểu con trai, chính vì vậy mà luôn gặp rắc rối khi đi học. Do bị nhà trường bắt ép mặc theo kiểu nữ, năm 11 tuổi cô bé đã bỏ học. Myo thích chơi trò đóng vai người lính, đồ chơi cô đòi mua luôn là súng ống. Các môn thể thao con trai như bóng đá, khúc côn cầu… cũng là sở thích của cô.

Vì tự coi mình là đàn ông nên lớn lên, Myo cự tuyệt việc lấy chồng, và ghét bị đối xử như một phụ nữ. Cô nói cô muốn có một người vợ. Khi chuyên gia nghiên cứu về luân hồi, tiến sĩ Ian Stevenson, cùng đồng sự, đến gặp Myo phỏng vấn, cô nói sẵn sàng để các chuyên gia giết mình nếu họ có cách nào đó để khi tái sinh, cô được trở lại là nam nhi. Dĩ nhiên, không ai có thể giúp Myo thực hiện khao khát đó.

Nỗi hận tình của Sinhazinha

Ông C.J. De Oliveiro, một chủ trại ở Rio Grand Do Sul (Brazil) có con gái tên là Maria, thường gọi là Sinha hoặc Sinhazinha. Lớn lên, cô thiếu nữ biết yêu nhưng cả hai lần đều bị bố ngăn cấm một cách cương quyết, đến nỗi một trong hai chàng trai đã phải tự tử vì thất tình.

Vì chuyện này mà cô gái ngày một sầu héo. Sinhazinha tự hủy hoại bản thân bằng cách phơi mình trong giá lạnh, đến nỗi bị viêm phổi, ho lao rồi chết sau vài tháng. Trước lúc qua đời, Sinhazinha tâm sự với người bạn thân Ida Lorenz rằng, cô sẽ tái sinh làm con của Ida, và khi đứa trẻ biết nói sẽ kể lại chuyện của kiếp trước nhằm giúp Ida nhận ra. Sinhazinha qua đời vài tháng thì Ida sinh một con gái đặt tên là Marta.


Một hôm, ông Oliveiro, bố của Sinha, đến chơi nhà Ida cùng một người quen khác. Người quen kia rất chiều chuộng Marta nhưng cô bé 1 tuổi chỉ bám lấy ông Oliveiro dù ông không thích trẻ con. Marta vuốt râu ông và nói: “Chào bố”. Ông lão không để ý đến lời chào ấy.

Lúc Marta 2 tuổi rưỡi, có lần cô bé đòi chị gái là Lola cõng mà không được, bèn nói: “Hồi trước lúc em lớn, còn chị bé, em thường cõng chị cơ mà”. Cô chị buồn cười hỏi; “Em lớn lúc nào?”. “Lúc mà em ở xa đây, nơi có nhiều bò, nhiều cây cam…” (cô bé tả nông trại của nhà Sinha).

Về đến nhà, người cha nghe con lớn kể lại thì hỏi vặn Marta: “Cái nơi mà con nói, bố chưa từng ở đó, sao con ở đó được?”. Cô bé trả lời: “Đúng thế, vì lúc ấy con có cha mẹ khác”. Marta cũng kể rằng, hồi đó gia đình cô cũng có các nô lệ da đen, có một em bé nô lệ có lần vì quên múc nước nên bị bố cô đánh: “Em bé khóc và bảo con là Sinhazinha cứu tôi với, con bèn xin bố đừng đánh nó nữa”, Marta kể.

Người cha hỏi Sinhazinha là ai, cô bé đáp: “Là con mà. Con còn một cái tên nữa là Maria”. Lúc này, Ida mới thử con gái: “Những lúc mẹ đến nông trại thăm Sinha, Sinha thường làm gì để đón tiếp mẹ?". Marta nói, cô thường pha sẵn cà phê, vừa đứng chờ trước nhà vừa nghe máy hát để trên thềm đá. Sự thật quả đúng như thế.

Ida hỏi Sinha đã nói gì khi bà đến thăm lần cuối, Marta diễn tả điều chỉ Ida và người quá cố biết: “Sinha thều thào vào tai mẹ, chỉ vào cuống họng mình ý nói vì đau họng nên không nói được”. Ngoài ra, Marta còn kể nhiều điều về Sinha mà vợ chồng Ida không biết, nhưng khi đi xác minh qua người khác thì thấy là sự thực.

Dù rất muốn về chốn cũ nhưng đến năm 12 tuổi, Marta mới được thỏa nguyện. Vừa bước vào nhà, cô đã chỉ cái đồng hồ treo tường và nói đó là của Sinha mua, phía sau có khắc tên cô bằng chữ vàng. Bố của Sinha không biết chi tiết này, bèn tháo xuống và quả nhiên thấy dòng chữ vàng: "Maria Januaria De Oliveiro". Những người quen cũ của Sinha cũng đến gặp Marta – người chưa từng gặp họ - để thử, và cô bé đều nhận ra, nhắc những kỷ niệm với họ.

Mặc dù gia đình không ai có bệnh về hô hấp nhưng Marta rất dễ bị cảm lạnh và viêm phổi, có lẽ đây là dấu vết của việc cô cố tình làm mình mắc bệnh và chết bằng giá rét ở kiếp trước. Marta cũng thừa nhận ở kiếp này, cô vẫn có xu hướng tự hủy hoại mình nếu gặp hoàn cảnh éo le.

Sunday, October 6, 2013

Hồi ức của vị trợ lý đại tướng Võ Nguyên Giáp

Hồi ức của vị trợ lý đại tướng Võ Nguyên Giáp

Miệt mài làm việc quên cả chuẩn bị thủ tục bay cho Đại tướng, chứng kiến vị Tổng Tư lệnh quấn lá ngải cứu quanh đầu do thức trắng đêm nghĩ cách đánh trận... đại tá Hoàng Minh Phương nhớ lại những năm tháng làm trợ lý tướng Giáp.

Ngày 20/8, hơn 350 chiến sĩ Điện Biên Phủ tại TP HCM đã họp mặt mừng đại tướng Võ Nguyên Giáp tròn 100 tuổi. Những bài thơ, bức tranh... được họ gửi gắm đến vị Tổng Tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam.
Các chiến sĩ Điện Biên Phủ chụp ảnh kỹ niệm với con gái đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: Tá Lâm.
Các chiến sĩ Điện Biên Phủ chụp ảnh kỷ niệm với con gái đại tướng Võ Nguyên Giáp (đứng giữa). Ảnh: Tá Lâm.
Đại tá Hoàng Minh Phương (84 tuổi, nguyên trợ lý cho đại tướng Võ Nguyên Giáp) xúc động nói, vượt qua tuổi 100 là một niềm hạnh phúc lớn không chỉ của đại tướng và gia đình mà còn là niềm vui lớn của các chiến sĩ Điện Biên Phủ năm xưa.
"Đối với các chiến sĩ Điện Biên Phủ, ân tình với đại tướng lại càng sâu nặng. Nếu không có quyết định sáng suốt, thay đổi cách đánh, từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc tiến chắc của Tổng Tư lệnh chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa thì hậu quả thật khôn lường. Có lẽ chúng ta ngồi đây đã hy sinh hết", vị trợ lý cho đại tướng Võ Nguyên Giáp nói.
Đại tá Phương kể lại, ông bắt đầu làm trợ lý cho đại tướng Võ Nguyên Giáp từ chiến dịch Biên Giới (1950) khi mới 22 tuổi. Đại thắng mùa xuân 1975 kết thúc thắng lợi, ông chia tay với vị Tổng Tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam. Sau này, mỗi lần đại tướng vào TP HCM, đại tá Phương lại có dịp ân cần trợ giúp cho "người anh cả".
Là trợ lý nên ông có điều kiện hiểu biết nhiều về đại tướng kể cả thời niên thiếu của ông. Đại tương từng kể, quê ông vào mùa gặt thường thuê phường gặt. Ngày gặt ngoài đồng, tối về giã gạo mọi người luôn miệng hát "Khoan khoan hò khoan", do vậy mà ông rất thuộc bài giã gạo. Những năm mất mùa đói kém, nhà ông phải đi vay thóc về giã mới có ăn. Sau mùa gặt, ông cùng mẹ đi trả nợ bị địa chủ Bá Hai ở Mỹ Lộc buộc phải đem thóc ra quạt mạnh cho bay hết hạt lép, cuối cùng chỉ còn lại hai phần ba. Mẹ ông đành chịu, nhà nghèo lại càng nghèo khiến lòng ông vô cùng căm uất.
Đại tá Hoàng Minh Phương (
Đại tá Hoàng Minh Phương (thứ hai từ bên phải qua) trao bức "Hào khí trăm năm" do nghệ nhân Ý Lan gửi tặng cho Đại tướng. Ảnh: Tá Lâm.
Nhớ lại chiến dịch Điện Biên Phủ, đại tá Phương kể, tối 25/1/1954, Đại tướng thức trắng một đêm không ngủ suy nghĩ cách đánh. Sáng hôm sau, ông lên thì thấy đại tướng quấn lá ngải cứu xung quanh đầu. Vị trợ lý hỏi: "Anh nhức đầu hay sao?" thì được Đại tướng nói: "Mười một ngày qua mình trăn trở vì chủ trương đánh nhanh thắng nhanh và suốt đêm qua không ngủ được. Chiều nay trận đánh sẽ bắt đầu rồi mà những yếu tố thắng lợi ta chưa nắm chắc. Cậu qua báo với trưởng đoàn cố vấn đề nghị xin làm việc sớm để mình thuyết phục cho kéo pháo ra, chuẩn bị lại theo phương châm đánh chắc tiến chắc".
Có một kỷ niệm mà trợ lý Phương không bao giờ quên là một lần đến trễ làm thủ tục bay cho Đại tướng. Do miệt mài dịch tài liệu đến 4 giờ sáng nên ông ngủ quên đến gần 7 giờ sáng mới lò mò dậy, trong khi chuyến bay đưa Đại tướng ra nước ngoài công tác khởi hành lúc 7h sáng.
Vội vàng ra sân bay, trợ lý Phương ngồi vào một góc và chờ đợi một trận la mắng của Đại tướng, nhưng vị Tổng Tư lệnh không hề trách móc, trái lại còn hỏi thăm: "Cậu đêm qua thức khuya dịch tài liệu không ngủ phải không? Mình phải kiếm cho cậu một cô vợ để về quản cậu chặt chẽ nếu không cứ thức đêm như thế không tốt".
"Lúc đó tôi thở phào nhẹ nhỏm. Đại tướng thường rất quan tâm đến anh em chiến sĩ, xem như những người bạn chí cốt. Còn anh em thì quý trọng ông như người anh cả", trợ lý Phương cười tươi.
Cũng có mặt trong buổi họp mặt, bà Hòa Bình (con gái của Đại tướng Võ Nguyên Giáp) xúc động trước tình cảm của những chiến sĩ Điện Biên Phủ năm xưa giành cho cha mình.
Con gái đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận tranh các cựu chiến binh gửi tặng Đại tướng. Ảnh: Tá Lâm.
Con gái Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận tranh các cựu chiến binh gửi tặng Đại tướng. Ảnh: Tá Lâm.
"Buổi sáng, trước khi bay vào TP HCM, cháu có báo với ba là sẽ vào Sài Gòn dự buổi họp mặt của các cô, các chú mừng ba 100 tuổi. Ba có nói ba gởi lời hỏi thăm mọi người", bà Bình kể.
Con gái của Đại tướng cũng cho hay bà từng nghe cha nói: "Hạnh phúc lớn nhất của người cầm quân là được ở bên chiến sĩ trên mặt trận". Và trong những lần gặp mặt các chiến sĩ, đại tướng cũng thường nói: "Chúng ta gặp mặt nhau ở đây là quý lắm rồi "và bao giờ ông cũng nhớ tới những người đã hy sinh. Chính những lần nghe cha nói như thế, bà Hòa Bình mới thấm thía nghĩa tình của những người chiến sĩ.
Thay mặt cho hơn 350 chiến sĩ Điện Biên Phủ, đại tá Phương đã gửi thư chúc mừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp tròn 100 tuổi. "Kính chúc đại tướng duy trì được sức khỏe để sống lâu hơn nữa cùng con cháu và chứng kiến những đổi thay của đất nước", bức thư viết.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và những mốc lịch sử

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và những mốc lịch sử

Xuất thân là thầy giáo, Võ Nguyên Giáp trở thành chính trị gia, tổng tư lệnh tối cao của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đại tướng là biểu tượng của nhiều thế hệ người dân về ý chí kiên cường và niềm tự hào dân tộc.
 

Năm 1930, khi mới 19 tuổi, trong sự kiện Xô Viết Nghệ Tĩnh, Võ Nguyên Giáp bị bắt và giam ở nhà lao Thừa Phủ (Huế).
Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911 ở làng làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, trong một gia đình nhà Nho. Năm 1930, khi mới 19 tuổi, trong sự kiện Xô Viết Nghệ Tĩnh, Võ Nguyên Giáp bị bắt và giam ở nhà lao Thừa Phủ (Huế).
Ngày 22/12/1944,
Ngày 22/12/1944, tại Cao Bằng, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân làm lễ thành lập với 34 chiến sĩ, do Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy.
Ngày 26/8/1945, Tư lệnh Việt Nam Giải phóng quân Võ Nguyên Giáp duyệt binh lần đầu ở Hà Nội sau khi giành được chính quyền.
Ngày 26/8/1945, Tư lệnh Việt Nam Giải phóng quân Võ Nguyên Giáp duyệt binh lần đầu ở Hà Nội sau khi giành được chính quyền.
Ngày 2/9/1946, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tròn một năm thành lập. Bí thư Tổng Quân ủy Võ Nguyên Giáp tuyên đọc Nhật lệnh của Quân ủy hội.
Ngày 2/9/1946, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tròn một năm thành lập. Bí thư Tổng Quân ủy Võ Nguyên Giáp tuyên đọc Nhật lệnh của Quân ủy hội.
Năm 37 tuổi (1948), Võ Nguyên Giáp được phong quân hàm Đại tướng và ông trở thành Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Năm 1948, ở tuổi 37, Võ Nguyên Giáp được phong quân hàm đại tướng và trở thành đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong ảnh, đại tướng Võ Nguyên Giáp làm việc tại chiến khu Việt Bắc năm 1949.
vnghcm-664624-1368796710_500x0.jpg
Chủ tịch Hồ Chí Minh và đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp tại Sở chỉ huy Chiến dịch Biên giới (1950).
Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp thị sát thị xã Cao Bằng vừa được giải phóng (1950).
Đại tướng Võ Nguyên Giáp thị sát thị xã Cao Bằng vừa được giải phóng (1950).
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hoàng thân Souphanouvong bàn kế hoạch mở Chiến dịch Thượng Lào 1953, tạo bước ngoặt quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân hai nước Việt Lào đi đến thắng lợi.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hoàng thân Souphanouvong bàn kế hoạch mở Chiến dịch Thượng Lào 1953, tạo bước ngoặt quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân hai nước Việt Lào đi đến thắng lợi.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp bàn kế hoạch tác chiến Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954).
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp bàn kế hoạch tác chiến chiến dịch Điện Biên Phủ (1954). Trước khi đại tướng lên đường, Chủ tịch hỏi: "Chú đi xa như vậy chỉ đạo chiến trường có gì trở ngại?", đại tướng trả lời: "Thưa bác! Chỉ trở ngại là ở xa, khi có vấn đề quan trọng khó xin ý kiến của Bác và Bộ Chính trị". Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Tướng quân tại ngoại, trao cho chú toàn quyền quyết định rồi báo cáo sau". Khi chia tay, Chủ tịch chỉ thị: "Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh. Không chắc thắng không đánh". Cuối cùng, Việt Nam đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Trung tướng Song Hào - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam quan sát Đại đội 6, Trung đoàn 233, Đoàn Cao xạ Đống Đa huấn luyện (Tết Mậu Thân 1968).
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và trung tướng Song Hào, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam quan sát Đại đội 6, Trung đoàn 233, Đoàn Cao xạ Đống Đa huấn luyện (Tết Mậu Thân 1968).
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh miền Nam và Tư lệnh trưởng Bộ đội Trường Sơn Đồng Sĩ Nguyên bàn kế hoạch tác chiến, chuẩn bị chiến dịch Đường 9 - Nam Lào tại một cánh rừng Trường Sơn năm 1971.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh miền Nam và Tư lệnh trưởng Bộ đội Trường Sơn Đồng Sĩ Nguyên bàn kế hoạch tác chiến, chuẩn bị chiến dịch Đường 9 - Nam Lào tại một cánh rừng Trường Sơn năm 1971.
Đại tướng duyệt phương án đánh B52 của Mỹ tập kích vào Hà Nội năm 1972 tại Sở Chỉ huy Quân chủng Phòng không - Không quân.
Đại tướng duyệt phương án đánh B52 của Mỹ tập kích vào Hà Nội năm 1972 tại Sở Chỉ huy Quân chủng Phòng không - Không quân.
Trong chuyến kiểm tra vùng biển Quảng Ninh sau chiến dịch phá thủy lôi năm 1973, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định:
Trong chuyến kiểm tra vùng biển Quảng Ninh sau chiến dịch phá thủy lôi năm 1973, đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: "Quyết tâm bảo vệ toàn vẹn vùng biển, hải đảo của tổ quốc".
Đại tướng
Đại tướng nghiên cứu bản đồ tuyến vận tải chiến lược của bộ đội Trường Sơn trên đường đi thăm đoàn 559 (tháng 3/1973).
Điện mật số 1574 lúc 9h30 ngày 7.4.1975 gửi các đoàn quân đang tiến về Sài Gòn: ..Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa...
Tháng 12/1974-1/1975, Bộ Chính trị quyết định Tổng tiến công giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuộc tổ thường trực Bộ Tổng tham mưu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975. Trong bức điện mật ngày 7/4/1975 gửi các đoàn quân đang tiến về Sài Gòn, đại tướng viết: "...Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa...".
Quân ủy Trung ương đang theo dõi diễn biến Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Trong ảnh, từ trái sang phải: Đại tá Lê Hữu Đức (Cục trưởng Cục tác chiến, Thượng tướng Hoàng Văn Thái (Phó tổng tham mưu), thiếu tướng Vũ Xuân Chiêm (Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần), Thượng tướng Song Hào (Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị), Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Tổng tư lệnh, Bộ trưởng Quốc phòng, Bí thư Quận ủy Trung ương), Trung tướng Lê Quang Đạo (Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị). Trong ảnh, từ trái sang phải: Đại tá Lê Hữu Đức (Cục trưởng Cục tác chiến, Thượng tướng Hoàng Văn Thái (Phó tổng tham mưu), thiếu tướng Vũ Xuân Chiêm (Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần), Thượng tướng Song Hào (Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị), Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Tổng tư lệnh, Bộ trưởng Quốc phòng, Bí thư Quận ủy Trung ương), Trung tướng Lê Quang Đạo (Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị).
Quân ủy Trung ương đang theo dõi diễn biến Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Trong ảnh, từ trái sang phải: đại tá Lê Hữu Đức (Cục trưởng Cục tác chiến), thượng tướng Hoàng Văn Thái (Phó tổng tham mưu), thiếu tướng Vũ Xuân Chiêm (Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần), thượng tướng Song Hào (Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị), đại tướng Võ Nguyên Giáp (Tổng tư lệnh, Bộ trưởng Quốc phòng, Bí thư Quận ủy Trung ương), trung tướng Lê Quang Đạo (Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị).
Năm 2010, cán bộ và nhân dân làng Thượng, xã Bảo Lý, huyện Phú Bình (Thái Nguyên) tặng Đại tướng bài thơ thất ngôn tứ tuyệt:
Năm 2010, cán bộ và nhân dân làng Thượng, xã Bảo Lý, huyện Phú Bình (Thái Nguyên) tặng đại tướng bài thơ: "Đại tướng anh hùng dễ mấy ai/ Đức độ, anh, uy, trí, dũng, tài/ Thắng hai đế quốc, bách niên thọ/ Hoàn cầu có một, không có hai". 

Quyết định khó khăn nhất trong đời chỉ huy của Đại tướng

Quyết định khó khăn nhất trong đời chỉ huy của Đại tướng

"Hơn chục ngày đêm suy nghĩ để đưa ra chiến thuật cuối cùng, Đại tướng hầu như không ngủ. Ông suy nghĩ liên miên đến mức đầu bốc hỏa bừng bừng", Trung tướng Phạm Hồng Cư kể về quyết định có tính chất bước ngoặt của chiến dịch Điện Biên.

Trong căn phòng làm việc rộng chưa tới 6m2, Trung tướng Phạm Hồng Cư say sưa kể, vẽ sơ đồ chiến dịch Điện Biên Phủ. Chốc chốc, vị tướng đã ngoài 80 phải ngừng lại lấy sức.
- Thực dân Pháp đã có sự chuẩn bị và tổ chức rất kỹ lưỡng với mục tiêu lôi kéo quân chủ lực của ta vào trận địa Điện Biên Phủ để tiêu diệt. Tại sao nắm rõ ý đồ của địch mà quân ta vẫn quyết đánh, thưa trung tướng?
tuonggiapbaocao-1348814819_480x0.jpg
Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo về chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu.
- Việc xây dựng "tập đoàn cứ điểm" ở Điện Biên Phủ là hình thức cuối cùng của Pháp nhằm chống lại quân Việt Minh sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường. Có 2 lý do khiến quân ta quyết tâm đánh và tiêu diệt cứ điểm Điện Biên. Thứ nhất, với kế hoạch này, thực dân Pháp đặt ta vào thế buộc phải đánh. Nếu không, địch sẽ dần chiếm lại những địa bàn mà ta hi sinh bao nhiêu xương máu giành giật được trước đó. Thứ hai, toàn Đảng, toàn quân ta lúc đó xác định, muốn thắng lợi trong cuộc kháng chiến thì chỉ bằng cách tiêu diệt được tập đoàn cứ điểm, tạo cán cân có lợi trên bàn đàm phán Geneva.
Tuy được nhiều chuyên gia quân sự đánh giá bất khả xâm phạm nhưng việc Pháp xây dựng cứ điểm ở Tây Bắc lại chính là thời cơ cho ta. Với đặc điểm là một lòng chảo nằm biệt lập trên vùng núi cao Tây Bắc, nếu bao vây và cắt được đường tiếp tế hàng không, Điện Biên Phủ sẽ bị cô lập. Lúc đó, quân ta hoàn toàn có khả năng tiêu diệt cứ điểm này. Thực ra, nếu có một Điện Biên Phủ ở đồng bằng, tình thế sẽ khó khăn hơn cho quân ta nhiều. Sau khi nhận định rõ tình hình, Bộ Chính trị và Bác Hồ đã hạ quyết tâm phải đánh.
- Suốt nhiều tháng trời chúng ta xây dựng phương án "đánh nhanh thắng nhanh". Vậy tại sao đến thời điểm quyết định, 50.000 quân đã dàn trận, đạn đã lên nòng chỉ chờ hiệu lệnh tấn công, ta lại chuyển sang "đánh chắc thắng chắc"?
- Ban đầu chúng ta vạch ra kế hoạch "đánh nhanh", nghĩa là lợi dụng lúc quân địch đứng chân chưa vững ập vào tấn công cả 4 mặt và có một mũi thọc sâu. Đây là gọi là "oa tâm chiến thuật", đánh thẳng vào trung tâm - sở chỉ huy của tướng De Castries. Vào thời điểm thay đổi phương án, kế hoạch "đánh nhanh thắng nhanh" đã được chuẩn bị sẵn sàng.
Tuy nhiên, sau khi thị sát nắm rõ tình hình thực địa, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định thay đổi. Lý do là đánh nhanh không chắc thắng. Chỉ trong thời gian ngắn, địch đã tăng cường không phải là lâm thời phòng ngự nữa mà đã trở thành tập đoàn cứ điểm kiên cố. Trong khi đó, trình độ thực tế của bộ đội Việt Nam lúc bấy giờ chưa thể áp dụng được cách đánh nhanh thắng nhanh.
Hàng chục khẩu pháo vượt đèo lôi suối sẵn sàng nhả đạn đã được rút trở ra sau khi phương án tấn công thay đổi. Ảnh tư liệu.
Hàng chục khẩu pháo vượt đèo lôi suối sẵn sàng nhả đạn đã được rút trở ra sau khi phương án tấn công thay đổi. Ảnh tư liệu.
Hơn nữa, lực lượng của ta xây dựng trong những năm kháng chiến, lúc đó bước vào năm thứ 8 mới có sáu đại đoàn, trừ Đại đoàn 320 ở đồng bằng và Đại đoàn 325 ở Trung bộ, còn lại bốn đại đoàn bộ binh 304, 308, 312, 316 tập trung hết ở Điện Biên Phủ và một Đại đoàn công pháo mới thành lập, lúc này ta được chi viện 24 khẩu pháo 105 và 24 khẩu cao xạ. Toàn bộ chủ lực xây dựng trong 8 năm kháng chiến đều dồn hết vào trận đánh này. Nếu trận này ta thua thì coi như hết vốn.
- Khi thay đổi cách đánh vào thời khắc cuối cùng đó, chắc hẳn áp lực sẽ là rất lớn đối với người ra quyết định?
- Đây là một quyết định dũng cảm và sáng suốt. Đại tướng gần như đã đi ngược lại quan điểm của cố vấn nước bạn và Đảng ủy lúc đó. Ông dám nghĩ, dám quyết định và dám chịu trách nhiệm.
Theo tôi, đưa ra quyết định này trước hết bắt nguồn từ lời dặn, cũng là tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Trước khi lên đường ra mặt trận, Bác dặn Đại tướng: "Trận này rất quan trọng, chắc thắng thì đánh, không chắc thắng thì không đánh". Các nhà sử học sau này bình luận, lời dặn của Bác rất có ý nghĩa bởi thời điểm lúc đó sắp họp hội nghị Geneva, nếu thắng trận này sẽ tác động lớn đến tình hình và hội nghị.
Tôi biết, hơn chục ngày đêm suy nghĩ để theo dõi tình hình trước quyết định, Đại tướng hầu như không ngủ được. Ông suy nghĩ liên miên đến mức đầu bốc hỏa bừng bừng, làm cho đồng chí y sĩ phải buộc nắm ngải cứu lên trán cho nhẹ bớt. Về sau, Đại tướng có kể lại việc này trong cuốn "Điện Biên Phủ - điểm hẹn lịch sử" ở chương "Quyết định khó khăn". Và tôi biết, đây là quyết định khó khăn nhất trong đời chỉ huy của ông.
- Với thay đổi như vậy, các vấn đề khác như lương thực, vận chuyển vũ khí... được xử lý như thế nào?
- Đây là điểm thể hiện rõ nhất tính chất của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, một cuộc chiến tranh nhân dân. Toàn bộ sức dân gần như đã được huy động vào thời điểm đó. Vùng tự do Thanh Hóa, Thái Bình... hay bà con ở Tây Bắc đã vét sạch gạo, ngô cho bộ đội, đến nỗi trong nhà không còn một hạt. Hàng vạn người dân đi dân công hỏa tuyến, hỗ trợ đắc lực cho bộ đội ta...
Quả thực, nếu không có sức dân, chiến dịch không thể nào tiến hành chứ chưa nói đến việc giành thắng lợi.
a
Với Trung tướng Phạm Hồng Cư, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người anh cả mẫu mực của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ảnh:Nguyễn Hưng.
- Theo ông, nếu lúc đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp không thuyết phục được cố vấn, Đảng ủy và kế hoạch "đánh nhanh" vẫn được thực hiện thì liệu kết quả trận đó như thế nào?
- (cười) Nói một cách dễ hiểu, nếu vẫn theo phương án ban đầu, thế hệ tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ như chúng tôi chắc không còn ai sống đến ngày hôm nay. Với hỏa lực mạnh và thế trận chủ động phòng ngự của địch, nếu cố đánh nhanh, giải quyết nhanh thì chúng ta sẽ gánh lấy kết cục bi thảm. Điện Biên Phủ sẽ trở thành cái "cối xay thịt" thực sự với quân ta. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chưa biết lúc nào mới kết thúc.
Sau này, nhân dịp 10 kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, một số tư lệnh đại đoàn mới dám bày tỏ với với Đại tướng Võ Nguyên Giáp ý nghĩ của mình. Đại đoàn trưởng 312 Lê Trọng Tấn nói rằng, nếu không có quyết định chuyển phương châm ngày đó thì phần lớn chúng tôi không có mặt trong kháng chiến chống Mỹ. Còn đại đoàn trưởng 308 Vương Thừa Vũ bộc bạch: "Tôi nghĩ, nếu lần đó cứ đánh nhanh, giải quyết nhanh thì cuộc kháng chiến có thể phải kéo dài thêm 10 năm".
- Vậy theo ông, điểm mấu chốt làm nên thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ là gì?
- Các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều yếu tố dẫn đến thắng lợi lịch sử này như sự đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế... Nhưng tất cả đều đồng ý với nhau ở một điểm, yếu tố quyết định chính là cách đánh, là phương án "đánh chắc thắng chắc" mà ta kịp thời áp dụng. Nói một cách chính xác thì điểm mấu chốt nằm ở quyết định thay đổi khó khăn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
- Là một trong không nhiều những nhân chứng còn lại của chiến dịch Điện Biên Phủ, điều gì khiến ông cảm nhận rõ nhất cho đến ngày hôm nay?
- Bất cứ người cựu chiến binh nào đến dịp kỷ niệm như thế này đều trào dâng niềm vui, phấn khởi và cả nỗi nhớ. Như tôi, những ngày này, tôi nhớ người anh trai hi sinh ngay trước khi ta bắt sống tướng De Castries chỉ vài giờ, nhớ những gương mặt đồng đội đã không còn... Một niềm vui chiến thắng đi liền với nỗi đau mất mát. Chiến tranh là thế...
Sinh năm 1926, lúc tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, trung tướng Phạm Hồng Cư là Phó chính ủy Trung đoàn 36 thuộc Đại đoàn 308, trấn giữ cánh đồng phía tây Điện Biên. Ông cũng vinh dự được tham gia vào chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 với tư cách Cục trưởng Cục Văn hoá, Phái viên Tổng cục Chính trị.

Võ Nguyên Giáp, một trong các vị tướng tài ba nhất thế kỷ 20

Võ Nguyên Giáp, một trong các vị tướng tài ba nhất thế kỷ 20

Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Nguyên soái Gregory Zhukov của Liên Xô, Tướng Dwight D. Eisenhower của Mỹ được công nhận là những nhà lãnh đạo quân sự lỗi lạc nhất của thế kỷ 20.

1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Việt Nam
1-7418-1380902459.jpg
Đại tướng Võ Nguyên Giáp của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong chiến tranh Thế giới thứ hai, Tướng Giáp cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo quân đội Việt Nam chống lại cả thực dân Pháp và đế quốc Nhật chiếm đóng. Sau đó, trong chiến tranh Việt Nam chống Mỹ, ông lãnh đạo nhân dân Việt Nam chống lại siêu cường số một thế giới trong một chiến tranh vũ trang điển hình. Sau gần 40 năm chiến đấu trường kỳ, nước Việt Nam thống nhất một nhà.
2. Nguyên soái Gregory Zhukov, Liên Xô (cũ)
8-8955-1380902460.jpg
Nguyên soái Gregory Zhukov là chỉ huy Hồng quân Liên Xô và giữ vai trò quan trọng trong việc đánh bại phe phát xít tấn công vào Liên bang Xô Viết. Ông dẫn đầu Hồng quân tiến vào Berlin và chấm dứt chiến tranh. Ông là nhà chiến lược tuyệt vời và được xếp đầu bảng về số lượng trận thắng và quy mô các trận đánh. Những chiến tích của ông trở thành những đóng góp lớn trong kho tàng kiến thức quân sự của nhân loại và làm thay đổi lý luận quân sự của thế giới.
3. Tướng Dwight D. Eisenhower, Mỹ
2-7300-1380902459.jpg
Dwight D. Eisenhower là vị tướng 5 sao của Quân đội Mỹ trước khi trở thành tổng thống nước này. Trong chiến tranh Thế giới II, Eisenhower giữ vai trò chỉ huy tối cao của lực lượng Đồng minh. Ông cũng là chỉ huy đầu tiên của Hiệp ước quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO). Ông là nhà chiến lược tài ba với sự khéo léo trong chính trị, khiến ông trở thành ứng cử viên hoàn hảo nhất để lãnh đạo liên minh quân sự phương tây trong Thế chiến II.
4. Đô đốc Chester W. Nimitz, Mỹ
3-6201-1380902459.jpg
Chester W. Nimitz là Đô đốc chỉ huy hạm đội của Hải quân Mỹ và trong Thế chiến II ông giữ chức Tổng tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương, và là Tư lệnh Hải, Lục, Không quân của Mỹ và quân Đồng minh ở Thái Bình Dương. Ông nhận nhiệm vụ kể từ sau trận Trân Châu Cảng và với chiến thuật tài tình, ông chứng minh rằng chiến dịch của ông là chiến dịch thành công nhất trong Chiến tranh Thế giới II và giúp đánh bại phát xít Nhật. 
5. Nguyên soái Bernard Montgomery, Anh
7-3760-1380902460.jpg
Nguyên soái Bernard Law Montgomery, Đệ nhất tử tước Montgomery xứ Alamein, bắt đầu sự nghiệp trong Chiến tranh Thế giới I nhưng lại nổi tiếng trong Chiến tranh Thế giới II khi chỉ huy quân đoàn số 8 của Anh trong chiến dịch Sa mạc phương Tây và đánh bại đội quân phát xít Đức của Erwin Rommel trong trận El Alamein. Sau chiến tranh ông trở thành Tham mưu trưởng của Quân đội Anh ở Rhine và sau đó là Tổng tham mưu trưởng Quân đội Hoàng gia.
6. Tướng George S. Patton, Mỹ
3a-4274-1380902459.jpg
George S. Patton là nhà chỉ huy quân sự được tôn kính trong Lục quân Mỹ còn kẻ thù của ông thì kính sợ. Ông lãnh đạo quân đội Mỹ trong Chiến dịch Bắc Phi thời Thế chiến II và sau đó là chiến trường châu Âu. Ông là một chuyên gia về chỉ huy binh chủng xe tăng và nổi tiếng với những trận đánh thần tốc.
7. Nguyên soái Sam Manekshaw, Ấn Độ
6-6696-1380902460.jpg
Sam Manekshaw, hay còn gọi là "Sam Bahadur" có nghĩa là "Sam dũng cảm", là vị nguyên soái đầu tiên của Ấn Độ. Sự nghiệp của ông bắt đầu từ thời Quân đội Anh-Ấn trong Thế chiến II. Ông là Tổng tham mưu trưởng thứ 8 của quân đội Ấn Độ và chỉ huy thắng lợi cuộc chiến năm 1971 với Pakistan và kết quả là sự ra đời của nhà nước Bangladesh độc lập.

Đại tướng Giáp ba lần lên bìa tạp chí Time

Đại tướng Giáp ba lần lên bìa tạp chí Time

Tạp chí danh tiếng TIME của Mỹ từng ba lần sử dụng chân dung của Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm trang bìa, khi đề cập cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam.

Giap-1966-8864-1380944344.gif
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên bìa của TIME số ra tháng 6/1966. Ảnh: TIME
Trong số ra ngày 17/6/1966, TIME lần đầu tiên sử dụng chân dung Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, làm trang bìa tạp chí. Trong bài bình luận về nhân vật trang bìa, TIME đã so sánh Tướng Giáp như Napoleon của Việt Nam, và trích dẫn câu nói nổi tiếng của ông "đánh là thắng, chỉ đánh khi chắc thắng, nếu không thắng thì không đánh", như kim chỉ nam của quân đội Việt Nam trong giai đoạn này.
Đây là giai đoạn chiến trường miền Nam của Việt Nam đang có những diễn biến mới. Bài viết của TIME cho rằng Tướng Giáp khi đó gặp nhiều khó khăn hơn so với thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bởi quân đội Mỹ huy động nhiều phi đội trực thăng có sức tấn công lớn.
time-2-9987-1380948098.jpg
Bìa TIME ngày 9/2/1968. Ảnh: TIME
Ngày 9/2/1968, TIME đưa chân dung Đại tướng làm ảnh trang bìa, với bối cảnh cuộc Tổng tiến công mùa xuân Mậu Thân 1968 vừa kết thúc. Cuộc tổng tiến công Mậu Thân diễn ra trên khắp miền Nam, gây bất ngờ lớn cho quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Đây cũng là trận chiến mở đầu cho một đợt phản công toàn diện từ tháng 2 cho đến cuối năm 1968.
time-3-4191-1380948098.jpg
Bìa TIME tháng 5/1972. Ảnh: TIME
Tháng 5/1972, sau chiến thắng trận Thành cổ Quảng Trị, TIME lần thứ 3 đăng hình Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên trang bìa. Trận Thành cổ Quảng Trị trong "mùa hè đỏ lửa" ấy là bước ngoặt quan trọng về mặt quân sự và ngoại giao, tạo tiền đề thuận lợi cho đoàn đàm phán Việt Nam tại Paris.

Sử gia Mỹ: 'Võ Nguyên Giáp sánh ngang Alexander đại đế'

Sử gia Mỹ: 'Võ Nguyên Giáp sánh ngang Alexander đại đế'

Cecil Currey, giáo sư lịch sử quân sự đã nghỉ hưu và là tác giả cuốn sách "Chiến thắng bằng mọi giá", đánh giá Đại tướng Võ Nguyên Giáp sánh ngang với Alexander đại đế.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong một bức ảnh chụp tại Hà Nội năm 1996. Ảnh: AFP.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong một bức ảnh chụp tại Hà Nội năm 1996. Ảnh: AFP.
"Võ Nguyên Giáp sánh ngang với các nhà chỉ huy quân sự vĩ đại của thế kỷ 20. Ông ngang tầm với Alexander đại đế. Ông ấy vượt trội hơn Napoleon, vượt trội hơn tất cả các tướng của chúng ta. Ông ấy là một con người vĩ đại của mọi thời đại", hãng phát thanh NPR của Mỹ dẫn lời Currey nói trong một buổi thảo luận về Tướng Giáp hôm 5/10.
Currey là tác giả cuốn "Chiến thắng bằng mọi giá" (Victory at Any Cost) viết về cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Alexander đại đế mà ông Currey nhắc đến là vị hoàng đế sống trước công nguyên và nổi danh vì đánh đâu thắng đó.
Trước đó, khi mở đầu buổi thảo luận, Renee Montagne, nhà báo Mỹ kiêm người dẫn chương trình của NPR, nhắc lại chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy. Đối với nhiều người Mỹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được biết đến như là "kiến trúc sư" của chiến dịch quân sự đã làm thay đổi cục diện chiến tranh Việt Nam.
"Chiến dịch Tết Mậu Thân năm 1968 khiến các chỉ huy Mỹ hoàn toàn bất ngờ. Các cuộc tấn công nổ ra trên khắp miền nam Việt Nam và khả năng Mỹ chiến thắng là không thể", bà Renee nhận định.
Giáo sư Carl Thayer ở Học viện Quốc phòng Australia nhận định Tướng Giáp là "nhân vật anh hùng và mang tính huyền thoại của Việt Nam".
Ted Morgan, tác giả cuốn sách "Thung lũng Chết: Chuyện về Điện Biên Phủ" (Valley of Death: The Story of Dien Bien Phu) nhận định: "Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã lên kế hoạch rất cẩn thận và tận dụng điểm yếu trong hoạt động tình báo của Pháp. Khi Navarre nhận ra thì đã quá muộn".
Hãng tin AP hôm 4/10 cho biết chiến thắng Điện Biên Phủ đã trở thành đề tài nghiên cứu của các trường, học viện quân sự trên toàn thế giới. Chiến thắng này không chỉ mang lại nền độc lập cho Việt Nam mà còn thúc đẩy quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân, ở khu vực Đông Dương cũng như trên thế giới, diễn ra nhanh chóng.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh năm 1911 tại Quảng Bình. Ông qua đời lúc 18h09 chiều ngày 4/10 tại Viện quân y 108 ở Hà Nội. Tang lễ Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ được tổ chức trọng thể theo nghi thức Quốc tang trong hai ngày 12 và 13/10. Lễ an táng được tổ chức tại Quảng Bình vào ngày 13/10 theo nguyện vọng của gia đình.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong mắt các học giả quốc tế

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong mắt các học giả quốc tế

Là một nhà quân sự thiên tài, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn được các sử gia, học giả, nhà báo nổi tiếng nước ngoài ngưỡng mộ.

Nhà báo kiêm sử gia người Mỹ Stanley Karnow (1925 - 2013) là người có mặt tại Việt Nam từ năm 1959, và là tác giả quyển sách nổi tiếng "Vietnam: A History" xuất bản năm 1983. Ông chịu trách nhiệm về nội dung cho một bộ phim 13 phần của đài PBS, "Vietnam: A Television History", thường được dịch sang tiếng Việt là "Việt Nam – Thiên lịch sử truyền hình". Bộ phim này đã giành được 6 giải thưởng Emmy, một giải thưởng Peabody, George Polk, DuPont - Columbia
Trong tác phẩm của mình, Stanley Karnow viết: "Tướng Giáp là một người đặc biệt. Ông vừa là một nhà hoạch định chính sách, vừa là một sĩ quan trên chiến trường. Người Pháp đã từng gọi ông là "trái núi lửa phủ băng". Ông là một người đàn ông lịch thiệp, luôn có chút hài hước khi trò chuyện. Ông ấy đặc biệt thông minh và có một kiểu bặt thiệp "rất Pháp"".
Karnow cho rằng, tài năng chiến lược của Tướng Giáp đã đặt ông vào "ngôi đền của những nhà lãnh đạo quân sự vĩ đại" như Wellington, Ulysses S. Grant hay Douglas MacArthur. Nhưng khác với họ, những chiến tích của ông là bởi nhờ tài năng thiên bẩm hơn là nhờ đào tạo chính quy.
"Sau Hồ Chí Minh, ông là nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam thế kỷ 20... Ông ấy giống như một vị thánh. Không có gì khiến ông phải chấp nhận thất bại", Karnow kết luận.
Cũng đi theo con đường của cha mình, con gái ông Stanley Karnow, nhà báo Catherine Karnow, sau nhiều thời gian nghiên cứu về lịch sử Việt Nam cũng nhận xét: "Tướng Giáp là "khối óc" của trận Điện Biên Phủ nổi tiếng, trận đánh giúp giành độc lập cho Việt Nam từ người Pháp, vào tháng 5/1954. Ông cũng đóng góp lớn cho chiến thắng của Việt Nam trước quân Mỹ vào tháng 4/1975".
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhà báo Catherine Karnow tại Hà Nội năm 1994.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhà báo Catherine Karnow tại Hà Nội năm 1994.
Nhà báo, nhà sử học quốc tế gốc Áo Benard Fall (1926-1967), cũng là người đã có nhiều năm theo dõi tin tức về khu vực Đông Dương những năm 50, 60 của thế kỷ 20 đã có một lời đánh giá từ năm 1962 trong tác phẩm "Võ Nguyên Giáp - con người và huyền thoại" (Võ Nguyên Giáp - Man and Myth - New York F.P.Publishers, 1962): "Trong một tương lai có thể thấy trước, phương Tây chưa thể đào tạo được một vị tướng nào sánh kịp với Võ Nguyên Giáp".
"Di sản lớn nhất ông để lại chính là vai trò của mình trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chiến lược chiến tranh nhân dân. Đó là biểu tượng cho lực lượng yếu chống lại lực lượng mạnh bằng chính trị và quân sự", Giáo sư William Duiker, học giả nghiên cứu về khu vực Đông Á tại Đại học Penn State, Mỹ, và là tác giả của nhiều cuốn sách nói về Việt Nam nói.
Giáo sư Cecil B. Currey từng giảng dạy lịch sử tại Đại học Nam Florida, Mỹ. Ông được đánh giá là một trong những sử gia xuất sắc về lịch sử chiến tranh và đã viết ba cuốn sách về Việt Nam. Cuốn "Võ Nguyên Giáp - Chiến thắng bằng mọi giá" ra đời sau chuyến thăm Việt Nam năm 1997, khi đó Cecil B. Currey đã được chính Đại tướng Võ Nguyễn Giáp tiếp tại nhà riêng.
Trong "Chiến thắng bằng mọi giá", Cecil B. Currey nhận định, mặc dù không hề qua trường lớp đào tạo về quân sự ngoài thực tiễn chiến trường và nghiên cứu sách vở nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ghi những chiến công huy hoàng. Thắng lợi của Tướng Giáp không chỉ đơn thuần về mặt quân sự mà còn là những trận toàn thắng về chính trị. Tướng Giáp và người Việt Nam đã nhấn mạnh sự kết hợp đấu tranh giữa nông thôn và thành thị. Ông cũng là người xuất sắc ở khả năng động viên và tổ chức quần chúng.
Nhà nghiên cứu khoa học lịch sử quân sự người Anh, Peter Mac Donald, đánh giá: "Từ năm 1944-1975, cuộc đời của Võ Nguyên Giáp gắn liền với chiến đấu và chiến thắng, khiến ông trở thành một trong những thống soái lớn của mọi thời đại. Với 30 năm làm tổng tư lệnh và gần 50 năm tham gia chính sự ở cấp cao nhất, ông tỏ ra là người có phẩm chất phi thường trong mọi lĩnh vực của chiến tranh. Khó có vị tướng nào có thể so sánh với ông trong việc kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Sự kết hợp đó xưa nay chưa từng có".
Năm 1992, Peter McDonald đã xuất bản tác phẩm "Võ Nguyên Giáp - Một sự đánh giá" (Giap, an assessment), trong đó, có trích lời nhận xét của vị tướng Pháp Marcel Bigéard (1916-2010), người từng chỉ huy quân đội Pháp tại Việt Nam: "Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy và chiến thắng qua một thời gian khá dài, đạt được kết quả ấy trong thời gian suốt 30 năm, thật là một chiến tích kỳ diệu".

Cuốn sách cũng trích lời của Đại tướng Mỹ William Westmoreland - một trong những đối thủ của Tướng Giáp, nhận xét: "Võ Nguyên Giáp là một con người cương nghị, một vị tướng vĩ đại".  Theo Westmoreland, ông tìm thấy ở Võ Nguyên Giáp một con người đầy nghị lực. Ông nói: "Những vị tướng chỉ huy quân sự ở cấp cao buộc phải có đức tính này, nếu không, họ sẽ không tồn tại lâu được".
Trong khi đó, Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam tại Đại học New South Wales, Australia đánh giá: "Ông ấy là một nhân vật huyền thoại và anh hùng của Việt Nam".
Trong con mắt ông Daniel Roussel, đạo diễn người Pháp, nguyên là phóng viên thường trú của báo Nhân đạo (L'Humanité), người có 7 năm (1980-1986) làm phóng viên thường trú tại Việt Nam, và có nhiều cuộc phỏng vấn với Đại tướng, "Tướng Giáp không bị hình ảnh của một anh hùng quốc gia, một nhà chiến lược quân sự có tầm vóc quốc tế che khuất, ông luôn luôn tỏ ra là một con người rất đỗi bình thường".
Còn trong Từ điển bách khoa toàn thư Pháp, mục từ về Võ Nguyên Giáp viết: "Là người tổ chức quân đội nhân dân, ông Giáp đã thực hiện được một sự tổng hợp độc đáo các học thuyết quân sự mácxít kết hợp nhuần nhuyễn với truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, vận dụng khôn khéo vào những điều kiện của một quốc gia có đất đai tương đối hẹp. Võ Nguyên Giáp đã chứng minh rằng ông có những đức tính ngoài tầm cỡ bình thường trên mọi lĩnh vực lớn của cuộc chiến tranh".